Liên kết website

Hỗ trợ trực tuyến

0912 802 402

0913 802 402

Hỗ trợ online

Ms. Hải Trầm
ĐT : 0912 802 402
Email : hmkzipper@gmail.com

Ms.Thùy Dương
ĐT : 0916 004 918
Email : hominh.co@gmail.com

Thông tin liên hệ

ĐT: 028 66822055 - 0912 802 402

Email: hmkzipper@gmail.com

Thống kê truy cập

  • Đang online:2260

  • Tuần này:18790

  • Tháng này:12183

  • Tổng truy cập:2165195

Chi tiết tin tức

KINH TẾ VIỆT NAM: KHỞI SẮC NĂM 2018 VÀ TRIỂN VỌNG NĂM 2019

Đăng lúc: 04-03-2019 03:50:57 PM - Đã xem: 457

 

GDP của Việt Nam năm 2018 tăng trưởng 7,08%, là mức tăng cao nhất trong 10 năm gần đây. Sự khởi sắc kinh tế Việt Nam năm 2018, nhân tố mới và khả năng tác động tích cực cho đà tăng trưởng trong năm 2019.

Khởi sắc năm 2018

Năm 2018 đã chứng kiến sự phục hồi thiếu đồng đều và chưa vững chắc của kinh tế thế giới khiến nhiều tổ chức quốc tế đã liên tục điều chỉnh dự báo của mình. Mặc dù ước tính cho thấy tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2018 có thể đạt 3,7%, song lại diễn ra không đồng đều giữa các nhóm nước và ngay trong cùng một nhóm nước.

Trong xu thế biến động thiếu ổn định, kinh tế Việt Nam có sự phát triển ấn tượng, đạt mức tăng trưởng cao nhất kể từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu (năm 2008). Tăng trưởng cao nhờ vào khả năng phục hồi vững chắc của các ngành nông nghiệp, dịch vụ và sự bứt phá của sản xuất công nghiệp với sự đóng góp mạnh mẽ của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Tính chung cả năm 2018, GDP cả nước tăng 7,08%, là mức tăng cao nhất trong 10 năm gần đây. Trong sự gia tăng này, khu vực nông nghiệp tăng 3,76% , dịch vụ 7,03%, và công nghiệp xây dựng tới 8,85%. Ngành nông nghiệp đã chứng kiến sự phục hồi cả về yếu tố tự nhiên và thị trường quốc tế. Do Mỹ,Trung Quốc đều là thị trường xuất khẩu nông, lâm, thủy sản lớn nên cuộc chiến tranh thương mại giữa 2 cường quốc này đã làm thay đổi cơ cấu xuất khẩu. Kể từ chiến tranh thương mại Mỹ-Trung nổ ra đến những tháng cuối năm 2018, tỷ trọng xuất khẩu nông sản của Việt Nam vào thị trường Mỹ tăng 15%; ngược lại, vào thị trường Trung Quốc lại giảm tới 13%.Với mức tăng trưởng cao hơn cùng kỳ nhiều năm trước, khu vực công nghiệp và xây dựng đã đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng của nền kinh tế. Trong đó, công nghiệp chế tác với những doanh nghiệp FDI vẫn tiếp tục giữ vai trò là động lực tăng trưởng (VEPR 2019).

Nét nổi bật trong năm 2018 là chất lượng tăng trưởng được cải thiện, kinh tế vĩ mô ngày càng ổn định với tỷ lệ lạm phát đạt 3,54%, dưới mục tiêu Quốc hội đề ra; thặng dư thương mại đạt mức cao kỷ lục trên 7,21 tỷ USD, tạo nguồn ngoại tệ để nâng cao dự trữ ngoại hối và giữ vững tỷ giá USD/VND không biến động mạnh. Theo định hướng xuất khẩu, kinh tế đối ngoại đã có thành công khích lệ với tổng kim ngạch xuất-nhập khẩu cả năm đạt trên 480 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu 244,72 tỷ USD và nhập khẩu 237,51 tỷ USD. Với 29 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD/năm, chiếm 91,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, điện thoại và linh kiện có vị trí hàng đầu đạt 50 tỷ USD; tiếp đó là dệt may 30,4 tỷ USD; điện tử, máy tính và linh kiện 29,4 tỷ USD.Xem xét tông thể nền kinh tế có thể nhận thấy, trong tổng kim ngạch xuất khẩu, khu vực FDI chiếm trên 71,7% và xuất siêu tới 30,81 tỷ USD. Ngược với chiều hướng này, khu vực kinh tế trong nước đã phải nhập siêu tới 25,60 tỷ USD.

Cùng với chiều hướng tích cực trong hoạt động thương mại, cán cân ngân sách có bước cải thiện. Số liệu chính thức từ Bộ Tài chính cho thấy, tổng thu cả năm đạt 1.422 triệu tỷ đồng, vượt 7,8% so với dự toán. Tuy nhiên, nguồn thu vẫn không đủ cho tiêu dùng nhà nước, chỉ đạt 67,6% dự toán cả năm. Nhìn chung, cấu trúc ngân sách chưa được cải thiện đáng kể so với nhiều năm trước; chi thường xuyên vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo và vượt xa so với khả năng thu. Các nhà nghiên cứu cho rằng, biện pháp tăng thu thông qua những sắc thuế mới hoặc tăng các sắc thuế cũ là điểm tối đáng quan tâm của tình trạng tài khóa (VEPR 2019).

Yếu tố thúc đẩy tăng trưởng của năm 2018 được xác định từ nhu cầu tiêu dùng gia tăng. Số liệu thống kê cho thấy, tiêu dùng tiếp tục tăng trưởng tích cực trong cả năm với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 11,7%, cao hơn so với mức tăng của nhiều năm trước đó. Cùng với nhu cầu tiêu dùng, tổng vốn đầu tư xã hội có sự phục hồi, khu vực kinh tế nhà nước liên tục giữ mức tăng trưởng đầu tư cao nhất. Tính chung cả năn 2018, đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đạt mức giải ngân kỷ lục trên 19 tỷ USD. Tuy nhiên lượng vốn đăng ký mới và bổ sung lại có dấu hiệu đi xuống, lần lượt giảm 15,5% và 9,7% so với năm 2017. Đây Là mối quan ngại của các nhà hoạch định chính sách, bởi động lực tăng trưởng của nền kinh tế được xác định hầu như đến từ khu vực FDI.

Trong tổng thể nền kinh tế, cơ cấu đã chuyển dịch tích cực theo hướng giảm xuất khẩu thô, tăng tỷ trọng hàng chế biến, nông sản và nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất. Thị trường trong nước được chú trọng phát triển; thương mại điện tử tăng bình quân 30%/năm. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội cả năm ước đạt trên 34% GDP. Đáng quan tâm trong đầu tư phát triển là tỷ trọng vốn đầu tư nhà nước theo chiều hướng giảm, đầu tư ngoài nhà nước tăng cao với đầu tư tư nhân ước đạt 42,4%. Chính phủ đã tổng kết 30 năm thu hút đầu tư nước ngoài (FDI). Theo đó,vốn FDI thực hiện cả năm 2018 đạt cao nhất từ trước đến nay và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư đã gia tăng, chỉ số ICOR những năm 2016-2018 giảm xuống 6,32, thấp hơn 6,91 của giai đoạn 2011-2015 (Nguyễn Xuân Phúc 2018),

Phân tích hiện trạng kinh tế đất nước, các nhà nghiên cứu và quản lý cho rằng: Trong xu thế phát triển toàn cầu, mặc dù môi trường kinh doanh biến động, có sự tranh chấp và đe dọa về thương mại nhưng hội nhập vẫn là xu hướng chủ đạo. Từ tầm nhìn vĩ mô, có thể thấy, Việt Nam duy trì ổn định khá tốt, nền kinh tế đã hấp thụ xung lực bên ngoài nhưng không gây biến động đáng kể thị trường ngoại tệ. Trong điều kiện dòng vốn quốc tế ngày càng lưu động hơn, chính sách tiền tệ độc lập để theo đuổi mục tiêu lạm phát linh hoạt, đã giúp tránh được tâm lý phá giá của thị trường, giảm được xung đột trong các mục tiêu chính sách để duy trì tăng trưởng.

Theo Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG), bước vào năm 2019 nền kinh tế có những nhân tố tạo thuận lợi cho phát triển nhờ xu hướng dịch chuyển sản xuất, do tác động của chiến tranh thương mại và triển vọng từ các hiệp định thương mại tự do. Những xu hướng này sẽ tạo động lực cho tăng trưởng của nền kinh tế. Cho dù có nhiều nhân tố mới xuất hiện, song kinh tế Việt Nam nói chung và khu vực xuất khẩu nói riêng còn phụ thuộc quá lớn vào đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đây cũng chính là điểm yếu hiện nay của nền kinh tế (VEPR 2019).

Cơ hội và thách thức

Năm 2019 là năm được đẩy nhanh tiến độ thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội để chuẩn bị các điều kiện cần tốt nhất cho việc hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020, do đó sẽ có nhiều yếu tố tích cực tác động đến tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là từ phía chính sách. Các yếu tố thuận lợi, cơ hội cho sự tăng trưởng cụ thể như sau:

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế thế giới mặc dù được dự báo suy giảm nhưng vẫn ở mức tăng khá cao so với giai đoạn trước. Kinh tế thế giới năm 2019 được dự báo sẽ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng của những năm trước nhờ sự hồi phục của các nền kinh tế lớn. Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế xã hội Quốc gia (NCIF) đưa ra dự báo mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2019 đạt 3,77%, thấp hơn so với mức 3,83% của năm 2018.

Thứ hai, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy nhanh tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển quan hệ kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và các đối tác.

Việc tham gia vào các hiệp định CPTPP và EVFTA sẽ mang lại tác động tích cực tới kinh tế Việt Nam trong năm 2019.

Theo đánh giá của Trung tâm, CPTPP sẽ giúp GDP của Việt Nam tăng thêm 1,32%, tương đương với 1,7 tỷ USD (trong TPP12, con số này là khoảng 6,7 %).

Tác động này có thể sẽ lớn hơn nếu Việt Nam thực hiện đồng thời cắt giảm thuế quan và tự do hóa dịch vụ theo kịch bản mở cửa dịch vụ (2,01%).

Thứ ba, kết quả tăng trưởng khả quan trong năm 2018 là điều kiện thuận lợi, tạo đà cho tăng trưởng năm 2019.

Thứ tư, kinh tế vĩ mô về cơ bản vẫn được đảm bảo, lạm phát được dự báo trong tầm kiểm soát, thanh khoản hệ thống ngân hàng được duy trì tốt, dự trữ ngoại hối được duy trì ở mức cao là căn cứ để đảm bảo tỷ giá và lãi suất không có biến động quá lớn là điều kiện thuận lợi ổn định kinh tế vĩ mô giúp cho tăng trưởng kinh tế 2019.

Thứ năm, môi trường kinh doanh được cải thiện mạnh mẽ hơn khi Việt Nam buộc phải thực hiện các cam kết trong Hiệp định CPTPP về cải thiện môi trường kinh doanh, đồng thời Chính phủ cũng đang nỗ lực “kiến tạo” để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp phát triển.

Ngoài những nhân tố thuận lợi trên, động lực tăng trưởng năm 2019 tiếp tục được duy trì bởi khu vực FDI (thông qua đóng góp trong xuất khẩu và công nghiệp chế biến, chế tạo) và khu vực tư nhân khi các yếu tố hỗ trợ khu vực này đã và đang được triển khai đồng bộ và mạnh mẽ hơn (với nỗ lực Chính phủ nhằm cải thiện môi trường kinh doanh lên mức trung bình khu vực và đưa khu vực tư nhân làm động lực mới cho tăng trưởng).

Nếu xét từ các ngành sản xuất, tăng trưởng kinh tế 2019 vẫn sẽ được dẫn dắt bởi ngành dịch vụ và sản xuất công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến, chế tạo.

Xét theo các yếu tố phía cầu, tăng trưởng kinh tế 2019 có xu hướng được thúc đẩy bởi (1) mức tăng mạnh của cầu tiêu dùng với niềm tin tiêu dùng được cải thiện do tăng thu nhập của người dânvà lạm phát được duy trì ở mức mức thấp và ổn địnhvà (2) tăng trưởng xuất khẩu được hỗ trợ với việc thực hiện các hiệp định thương mại, và (3) tổng đầu tư toàn xã hội có thể được duy trì như những năm vừa qua với sự đóng góp nhiều hơn từ FDI và khu vực tư nhân.

Mặc dù có nhiều yếu tố tích cực hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế năm 2019, nhưng nền kinh tế cũng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như:

Thứ nhất, kinh tế có thể bị tác động tiêu cực từ các biến động của kinh tế thế giới, trong đó nổi bật là cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung.

Thứ hai, mô hình tăng trưởng mặc dù có sự cải thiện song chưa rõ rệt, tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào các nguồn lực như vốn đầu tư và tín dụng, trong khi chất lượng, hiệu quả sử dụng các nguồn lực này chưa cao.

Thứ ba, chất lượng lao động chưa được cải thiện cùng năng lực khoa học - công nghệ ở mức thấp có thể ảnh hưởng tới lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường quốc tế và khả năng thu hút các dòng vốn tới Việt Nam.

Thứ tư, công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành đã có tăng trưởng ấn tượng trong thời gian qua nhưng đang có xu hướng tăng chậm lại.

Thứ năm, xuất khẩu đối mặt với nhiều khó khăn khi mà các chính sách bảo hộ thương mại của nhiều đối tác lớn chính thức áp dụng với nhiều hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

Thứ sáu, giá của các nhóm hàng y tế, giáo dục, điện, nước đã được chính phủ sẽ tiếp tục được điều chỉnh tăng làm tăng chi phí sản xuất và tiêu dùng, từ đó làm giảm sức mua trong nước, đồng thời gây áp lực gia tăng lạm phát.

Triển vọng năm 2019

Mở đầu năm 2019, các định chế tài chính toàn cầu thể hiện mối quan ngại về triển vọng kinh tế có chiều hướng xấu đi do thương mại và đầu tư suy giảm, nhưng tăng trưởng GDP của Việt Nam vẫn được dự báo ở mức cao so với bình quân khu vực và trên toàn thế giới.Nền kinh tế Việt nam năm 2019 được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhận định sẽ bước vào bối cảnh phức tạp, khó lường với thời cơ và thách thức đan xen. Theo ông, đây là thời điểm kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, chiến tranh thương mại, biến động tỷ giá, lãi suất, rủi ro trên thị trường tài chính, tiền tệ gia tăng. Mặt khác, những thách thức an ninh phi truyền thống và cuộc cách mạng 4.0 cũng tác động mạnh mẽ trên nhiều phương diện.

Nghị quyết 01 của Chính phủ Việt Nam ban hành đầu năm đã hé lộ kịch bản tăng trưởng trong năm 2019. Theo đó, tăng trưởng GDP cần đạt 6,8%, cao hơn so với mục tiêu Quốc hội đề ra (6,6 - 6,8%). Để đảm bảo tăng trưởng bền vững chỉ số CPI được xác định dưới 4%; tổng vốn đầu tư xã hội so với GDP 34%; kim ngạch xuất nhập khẩu tăng từ 8 đến 10%; tăng tốc độ tổng mức bán lẻ và dịch vụ lên 12%. Kỷ luật ngân sách được siết chặt, hạ tỷ trọng chi thường xuyên xuống 63-63,5% và đưa tỷ lệ chi đầu tư phát triển lên 27-27,5%. Chính phủ cũng phấn đấu để đưa nợ công so với GDP xuống 61,3%. Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại xuống dưới 2% và tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống dưới 5% (Cafe.vn 2019)

Với tầm nhìn của các định chế tài chính toàn cầu, Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) cho rằng, mặc dù tăng trưởng toàn cầu giảm tốc,căng thẳng thương mại đang diễn ra và rủi ro tài chính che mờ triển vọng toàn cầu, song kinh tế Việt Nam vẫn mang nhiều hứa hẹn. Trong báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới (WEO) cập nhật cuối năm 2018, tổ chức này dự báo, trong năm 2019 tăng trưởng toàn cầu giảm xuống còn 3,7%, những nền kinh tế đang phát triển duy trì ở mức tăng 4,7%, nhưng với Việt Nam, vẫn dự báo đạt trên 6,7% cao hơn mức gia tăng 6,5% của Trung Quốc. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong hơn 30 năm qua Việt Nam được dự báo tăng trưởng cao hơn Trung Quốc (Đỗ Thiên Anh Tuấn 2018).

Nhìn nhận về triển vọng kinh tế Việt Nam, nhóm Ngân hàng Thế giới (W.B) cho rằng, tăng trưởng sẽ tiếp tục dựa trên nền tảng sức cầu trong nước đứng vững với mức tăng trưởng mạnh về đầu tư và tiêu dùng tư nhân. Triển vọng tăng trưởng ngắn hạn của Việt Nam có nhiều cải thiện, song do độ mở rộng, rủi ro kinh tế trước những biến động toàn cầu còn rất khó lường, có thể ảnh hưởng bất lợi đến tình hình tài chính vĩ mô, làm xấu đi viễn cảnh tăng trưởng trưởng trung hạn. Từ những hạn chế và rủi ro có thể xảy ra, W.B dự báo nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng năm 2018 ở mức 6,8% và giảm nhẹ xuống còn 6,6% trong năm 2019 (Worlbank 2018)

Khác với nhìn nhận lạc quan của một số nhà nghiên cứu, đánh giá tình hình kinh tế Việt Nam trong thời gian tới, Ngân hàng Phát triển châu Á(ADB) đã bày tỏ mối quan ngại đối với những rủi ro có thể đến từ chiến tranh thương mại Mỹ-Trung. Trưởng Ban Kinh tế của ADB, Yasuyuki Sawada cho rằng "Thỏa thuận thương mại giữa Hoa Kỳ và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa rất đáng hoan nghênh, song xung đột chưa được tháo gỡ vẫn là nguy cơ chính đối với triển vọng kinh tế của khu vực". Tổ chức này dự báo, kinh tế Việt Nam Việt Nam sẽ tăng 6,8% trong năm 2019 (Cafe.vn 2018)

Từ góc nhìn trong nước, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG) nhận xét, trong năm 2019 nền kinh tế sẽ có nhiều nhân tố mới tạo thuận lợi từ tình hình quốc tế do được hưởng lợi từ xu hướng dịch chuyển sản xuất do tác động của chiến tranh thương mại và triển vọng từ các hiệp định thương mại tự do, những tác động này sẽ tạo động lực tăng trưởng kinh tế. Nếu môi trường kinh doanh được cải thiện theo hướng tốt hơn, kinh tế Việt Nam trong năm 2019 có thể đạt mức tăng trưởng đến 7% (Tiến Thành 2018)

Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế-Xã hội Quốc gia (NCIF) thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, nền kinh tế nước ta được hỗ trợ bởi 3 động lực bao gồm phát triển khu vực tư nhân; cải cách thể chế, môi trường kinh doanh và phát triển khoa học công nghệ, nâng cao năng suất lao động.Với những tính toán cẩn trọng, tổ chức này đã đưa ra mức tăng trưởng dự báo từ 6,9% đến 7,1% cho giai đoạn sau năm 2018.Tuy nhiên, nền kinh tế trong nước đang phải đối mặt với thách thức ngày càng phụ thuộc sâu vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; tăng trưởng tín dụng và cung tiền cao tiềm ẩn những rủi ro về nợ quốc gia và mất ổn định kinh tế vĩ mô. Tỷ lệ nợ công cao, nghĩa vụ trả nợ lớn cũng là vấn đề gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế cũng được NCIF đặc biệt cảnh báo trong giai đoạn 2019-2020 (Cafe.vn 2019)

Từ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội năm 2014 Quốc hội khóa 14 đã thông qua. Với mục tiêu đạt tăng trưởng GDP từ 6,6% đến 6,8%, CPI bình quân dưới 4% và vốn đầu tư phát triển toàn xã hội từ 33% đến 34% GDP, Viện Nghiên cứu Kinh tế và chính sách (VEPR) thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, những mục tiêu này có thể đạt được thậm chí còn có thể vượt. Tuy nhiên, rủi ro lạm phát cần được theo rõi chặt chẽ do thị trường thế giới biến động bất thường. Trong bối cảnh này, VEPR dự báo tăng trưởng kinh tế cả năm đạt 6,9% và lạm phát quý 4 ở mức 4,28%, đảm bảo lạm phát cả năm dưới 4% (VEPR 2019).

Triển vọng tăng trưởng kinh tế việt Nam trong dài hạn sẽ tiếp tục phụ thuộc vào dòng vốn FDI, kết quả gỡ bỏ rào cản thể chế và cải thiện môi trường kinh doanh, hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế. Nhiều cơ hội được mở ra theo triển vọng của các Hiệp định thương mại tự do và cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung. Tuy nhiên, để cơ hội biến thành hiện thực đòi hỏi môi trường thể chế phải được cải thiện và vấn đề lớn nằm ở chính sách tài khóa. Trước tiến trình bình thường hóa chính sách tiền tệ từ những nước phát triển và nguy cơ chiến tranh thương mại leo thang, Việt Nam phải dựa nhiều hơn vào nguồn nguồn nội lực cho đầu tư phát triển. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi môi trường thể chế được cải thiện, điều kiện kinh doanh , chất lượng nguồn nhân lực nâng cao và quan trọng là việc thu gọn, tinh giản sắp xếp lại bộ máy quản lý nhà nước có hiệu quả.

Trên cơ sở đánh giá tình hình kinh tế 2018, cũng như xem xét triển vọng phát triển của các ngành, lĩnh vực, các nhân tố có thể tác động đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2019, các chuyên gia kinh tế đã thống nhất đưa ra các kịch bản dự báo triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2019 phụ thuộc vào các biến số như: Tăng trưởng kinh tế giới; chỉ số giá tiêu dùng thế giới; giá dầu thế giới; một số đánh giá tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung; tỷ lệ đầu tư/GDP; tốc độ tăng lực lượng lao động và biến động tỷ giá, biến động lãi suất; tăng trưởng tín dụng; nợ công. Theo đó, dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam 2019 sẽ dao động trong khoảng 6,84%-7,02%.

Theo : ( Hôn nhân & pháp luật )

Các tin liên quan: